IRAC là viết tắt của Vấn đề, Quy định, Áp dụng, Kết luận. Đây là một cách cấu trúc phân tích pháp lý. Một bài viết hiệu quả (bất kể độ dài) tuân theo cấu trúc IRAC mà ở đó bài viết được tổ chức xung quanh các phần tử này đối với từng vấn đề, vấn đề phụ. IRAC là công cụ cực kỳ hữu ích để tổ chức các bài viết trả lời luật pháp. Nó không chỉ là cách thức cấu trúc câu trả lời, mà còn giúp đỡ để chắc chắn tất cả các căn cứ được đề cập.
Như vậy, cho đến khi bạn có được cấp độ lưu loát về suy nghĩ và cách viết, bạn có thể đan cài các quy định và dữ kiện thực tế một cách nhuần nhuyễn và chuyển đổi ý tưởng không mất đi bản chất hay người đọc. Bạn có thể lựa chọn tập trung vào một số hình thức IRAC. Sử dụng IRAC như là công cụ tổ chức suy nghĩ và viết lách. Hãy nghĩ IRAC như khung dệt cái mà ở đó chỉ hỗ trợ các mạch lập luận, trong khi bạn dệt và tạo ra một một mảnh vải đẹp và phức tạp, đó là một lập luận logic hoàn chỉnh. Dần dần, việc xử lý sẽ trở thành tự động và bạn sẽ dựa vào khung dệt ngày càng ít đi. Khi đó, bạn có những thứ mà bạn có thể dựa vào để hướng dẫn bạn thông qua quá trình giải quyết.
Thực hiện IRAC như thế nào
1. Trình bày vấn đề
Vấn đề là yếu tố quan trong nhất trong phân tích và phải nêu theo cách thấy được cái gì còn đang tranh cãi. Câu hỏi pháp lý đan xen với nhau, quy tắc và dữ kiện thực tế cụ thể cho vấn đề mà bạn cần xác định.
Xác định rõ Vấn đề bằng cách tạo câu hỏi pháp lý trình bày bởi dữ kiện thực tế. Để tìm vấn để, đặt câu hỏi “cái gì đang tranh cãi trong các dữ kiện này” (tất nhiên, bạn cần biết pháp luật và tìm kiểm câu hỏi pháp lý trong các dữ kiện). Sử dụng cấu trúc “whether, when” để giúp bạn cô lập và trình bày về vấn đề. Một số giáo sư có thể không cần nhìn thấy cụm từ cụ thể - “the issue is whether”. Bạn đạt được kết quả tương tự với những từ khác – “Did” hoặc “Can”. Không bận tâm đến ngôn ngữ. Theo hướng dẫn của giáo sư hoặc cách khác mà bạn đạt được cùng mục đích: nhận diện vấn đề pháp lý.
Bạn nên thường xuyên sử dụng ngôn ngữ hướng dẫn trình tự suy nghĩ: “The issue is whether” .. vsau đó xác định và nêu kết luận pháp lý bạn muốn tòa án để đạt được… Don phạm tội bạo lực (hoặc đã cáo buộc, hoặc tòa an có thể xác định thẩm quyền theo cá nhân) … và liên kết với các dữ kiện “liên quan” (các dữ kiện liên quan trong các dữ kiện có ảnh hưởng đến kết quả) … khi Don đẩy Pam ngay cả khi anh ta hiểu rằng Pam không ở tình huống nguy hiểm bị đâm bởi người đi xe đạp. Khi hoàn tất, viết thành câu: “The issue is wheather Don committed a battery when he pushed Pam even though he knew she was in no danger of being hit by the bicyclist”.
2. Trình bày quy tắc
Sau khi bạn có vấn đề, bạn phải xác định quy tắc luật lệ. Các quy tắc và dữ kiện là có liên kết chặt chẽ. Phân tích dữ kiện là không có ý nghĩa trừ khi bạn có sự xác định trước các quy tắc quyết định ý nghĩa pháp lý được quy cho những dữ kiện này. Sử dụng các khối xây dựng cho đối với quy tắc luật pháp, xem xét:
Các yếu tố cấu thành
- Định nghĩa
- Ngoại lệ đối với quy tắc chung
- Các giới hạn đối với quy tắc
- Bảo vệ
Khi viết, tuân theo tuần tự thứ bậc khái niệm:
- Đi từ chung đến chi tiết
- Định nghĩa mỗi thuật ngữ pháp lý
Nhận diện
- Kết quả của việc áp dụng quy tắc – cái gì sẽ xảy ra?
- Kết quả của các quy tắc trong tình huống này là gì?
Dẫn đến bạn xem xét:
- Ý nghĩa của việc áp dụng quy tắc ở đây là gì? Cái gì sẽ bị ảnh hưởng?
3. Phân tích dữ kiện dưới góc độ luật pháp
Phân tích hoặc áp dụng là trung tâm của thảo luận và đôi khi làm việc tốt hơn kết hợp với quy tắc. Đây là khi bạn đánh giá vấn đề được nêu lên bởi dữ kiện dưới góc độ luật pháp. Trình bày về quy tắc sẽ điều hướng việc tổ chức các phân tích. Bạn đơn giản khớp nối từng yếu tố mà bạn đã nhận diện trong quy tắc với dữ kiện, sử dụng từ “because” để tạo kết nối giữa quy tắc và dữ kiện. “Because” là từ đơn quan trọng nhất để sử dụng khi viết phân tích. Sử dụng từ “Because” buộc bạn phải tạo kết nối giữa quy tắc và dữ kiện. Cũng vậy, sử dụng từ “as” và “since” – chúng đóng chức năng tương đương như “because” và đôi khi sẽ tạo ra ít dư thừa khi sử dụng trong một đoạn văn có “because”
.
4. Kết luận
Kết luận mỗi vẫn đề trước khi đưa và kết luận vấn đề tổng thẻ. Không có câu trả lời đúng hay sai, chỉ có phân tích logic về các quy tắc và dữ kiện đem đến kết luận hợp lý. Lưu ý: nhắc lại việc xử lý đối với mỗi vấn đề bạn đã nhận diện – mỗi vấn đề tạo thành các căn cứ cho mỗi phân tích IRAC riêng rẽ.
Ví dụ
1a. Không viết:
In this case, while Pete the police officer was giving Dan a sobriety test, he noticed that Dan fit the description of an eyewitness to the robbery, giving the police officer probable cause to arrest Dan.
1b. Mà viết:
In this case, Pete the police officer realized that Dan fit the description of the suspect, providing probable cause for arrest, because Dan was extremely tall at 6’4”, was wearing a green and tan sweater with purple patches and pointy-toed alligator cowboy boots, fitting the description provided by the eyewitness to the robbery.
2a. Không viết:
ABC Inc. engaged Dr. Jones to develop a drug that reduced hair loss. Dr. Jones worked in his own laboratory, hired and fired his own assistants and set their working hours as well as his own. He meets with the President of ABC every Friday morning to discuss progress on the project, and at this time, Dr. Jones submits his timesheet for payment. The President pays Dr. Jones weekly.
2b. Mà viết:
Here, Dr. Jones can be considered an independent consultant for ABC Inc. because he completes all the research and development work in his own laboratory, in a separate facility from that of ABC, where he has direct control over the employees because he hired his own assistants, setting their work hours. He also exercises direct control over his own work because he sets his own work hours and only meets with ABC once a week. Further, since he only meets with the President of ABC on a weekly basis to discuss progress on development of the hair loss product, the President does not supervise Dr. Jones on a daily basis as to the work which goes on in the laboratory.
Dịch từ: http://www.tsu.edu/pdffiles/academics/law/life/support/irac.pdf